Bao giờ cho đến tháng Mười (1984)


Image

Tên phim: Bao giờ cho đến tháng Mười

Hãng phim: Hãng phim Việt Nam và Phương Nam Phim

Đạo diễn: Đặng Nhật Minh

Kịch bản: Đặng Nhật Minh

Diễn viên: Lê Vân, Nguyễn Hữu Mười, Đặng Lưu Việt Bảo, Lại Phú Cường

Thời lượng: 95 phút

Giải thưởng: Giải đặc biệt tại Liên hoan phim Quốc tế châu Á – Thái Bình Dương năm 1989, một trong 18 phim châu Á hay nhất mọi thời đại do CNN bầu chọn

IMDB: 7.9/10 | Watching Cafe: ★★★½☆

~oOo~

Bi kịch trong ảo ảnh

Cứ đến mỗi dịp lễ tết hay kỷ niệm các sự kiện cách mạng, các đài truyền hình đều không quên chiếu lại “Bao giờ cho đến tháng mười”, một tác phẩm kinh điển của điện ảnh Việt Nam. Và mỗi lần trình diễn, dường như lớp nghĩa của bộ phim này lại được nhuận sắc đến vô tận. Trong bài biết này, tôi xin trình bày góc nhìn cá nhân đối với một yếu tố mà bản thân cho là có vai trò quan trọng trong mạch tự sự của phim. Đó chính là cái ảo gắn liền với thế giới nội tâm nhân vật Duyên.

Khi tra cứu kịch bản gốc của đạo diễn Đặng Nhật Minh, ta có thể thống kê được một chuỗi những trường đoạn được xây dựng trên chất liệu là “cái ảo”. Đó chính là những cơn hôn mê, những giấc mơ, nhưng liên tưởng của nhân vật. Ngay từ đầu kịch bản, tác giả đã lập tức đưa nhân vật vào một cơn hôn mê kì dị và đầy ám ảnh, ngay sau tâm trạng đau đớn làm nghiêng cả một mặt sông, điều được thể hiện rất rõ trong những thước phim đầu tiên.

“Duyên ngã xuống dòng sông trong vắt. Anh giáo đi cùng thuyền vội nhảy xuống. Con đò xoay tròn giữa dòng sông. Bà lái đò luống cuống. Người thanh niên cố vực Duyên lên thuyền. Cả hai đều ướt sũng. Trong lúc đó không ai để ý tới tờ giấy báo tử từ từ trôi đi trên mặt sông. Ta hãy đi vào cơn hôn mê của cô gái. Nó đến như từ một cõi xa xăm nào, im lặng, chậm rãi và trang nghiêm. Người chiến sĩ, chồng cô đứng thẳng lên, hơi rướn mình rồi bỗng nhiên tay bưng lấy mặt. Máu ứa ra từ kẽ ngón tay. Anh vẫn đứng thẳng, tay kia đưa lên vẫy gọi đồng đội và chỉ có đôi mắt, đôi mắt hiện lên to dần, long lanh như muốn nói với ta điều gì…

Có tiếng Duyên van nài:
Anh bỏ tay xuống đi…
Chồng cô vẫn lắc đầu.
Anh bỏ tay xuống đi… Một lần thôi… Em muốn nhìn thấy mặt anh…
Người chiến sĩ từ từ buông tay xuống và ta nhìn thật rõ gương mặt đẫm máu của anh. Duyên kinh hãi úp mặt vào bàn tay của chồng rồi đột nhiên nhẩng lên nhìn thẳng vào mặt anh – Cả khuôn mặt cô cùng dính đầy máu…

Theo cá nhân người viết, đây là sẽ là một cảnh tượng rất giàu ý nghĩa nếu dựng thành phim. Nhân vật được cô đặc hoá thành một biểu tượng oan khốc của chiến tranh trong cơn đau ngất trời của thế giới tinh thần người goá phụ. Giữa đôi vợ chồng giờ đây là màn máu đỏ nghìn trùng cách trở. Nó nói lên được hết cái kinh liệt của chiến tranh và thân phận của khát khao gắn kết giữa người với người. Rất tiếc, cảnh này lại không xuất hiện trong bản phim chính thức. Tuy nhiên, điều đó cũng cho thấy rằng, những yếu tố kỳ ảo ngay từ đầu đã được tác giả đưa vào kịch bản với những dụng ý rất rõ ràng.

Trong phim, ta bắt gặp rất nhiều những ảo ảnh xuất hiện qua các thước phim. Từ cảnh tranh tối tranh sáng rất ma mị nhựng cũng rất ấn tượng và đầy không khí tâm linh trong miếu thờ Thành Hoàng sau khi cô đến nhờ thầy giáo Khang viết giùm lá thư củ chồng, liền sau đó là một trường liên tưởng quá khứ cho đến những cảnh bom rơi sa trường trong giấc mơ của Duyên, rồi hình ảnh người chồng đang nhìn thẳng về phía cô, trong giấc mơ… Tất cả những liên tưởng, mộng mị này làm thành cả một “trường ảo ảnh” dồn dập, tồn sinh theo nỗi đau của người phụ nữ mất chồng, để rồi đến giai đoạn sau đó, những ảo ảnh này trở thành ám ảnh đối với người đàn bà, thể hiện qua trường đoạn gặp Thành Hoàng sau vở chèo Trương Viên ở sân đình. Những thước phim đầu tiên của đoạn này phải nói là cực kỳ ấn tượng. Đạo diễn đã khéo léo xử lý để làm nổi bật cảnh Duyên chạy qua một cánh đồng rộng trước khi đến được miếu thờ. Phục trang tứ thân quyện vào dáng hình mảnh mai của người phụ nữ, liêu xiêu băng qua cánh đồng của đêm tối, vắng lặng vô hình, tất cả đã dẫn người xem chuyển điểm nhìn từ thế giới thực sang thế giới ảo, thể giới tinh thần cô độc và toàn vẹn của Duyên được khơi nguồn từ cơn xúc động khủng khiếp do vở chèo. Nói cách khác, tình huống của vở chèo là một yếu tố kích hoạt thế giới nội tâm của người phụ nừ vốn bấy lâu được nuôi bằng ảo ảnh. Và đây là thế giới nơi cái ảo toàn trị đó:

“Duyên vừa đi vừa chạy trên đường làng vắng, thỉnh thoảng lấy áo lau những vết hoá trang trên mặt. Cô bước vào chiếc miếu thờ cô quanh dười cây muỗm già, cởi bỏ phục trang của vở chèo… Duyên giật mình nhìn thấy sừng sững trước mặt người tráng sĩ ra trận với chiếc gươm dài đeo bên mình, đúng như người cùng diễn với cô trong vở chèo lúc nãy. Nhìn thấy Duyên hốt hoảng, tráng sĩ mỉm cười nói…”

Và sau đó là một cuộc trò chuyện rất dài giữa Duyên và nhân vật kỳ ảo đó. Câu chuyện xoay quanh chiếc diều ngày xưa mà người chồng đã đốt trước khi ra trận. Có thể nói, trong thế giới đó, những mảnh ký ức được sắp đặt và xuất hiện với một tầng nghĩa mới, linh thiêng hơn, kỳ dũng hơn, đồng thời cũng đề cập trực tiếp đến điều mà nhân vật chính vừa âm thầm chấp nhận, vừa luôn muốn phủ nhận.

Sau lần chạm ngõ cõi mộng đó, đạo diễn đưa ta đến một trong những phân đoạn nổi tiếng nhất của phim và có thể được xem như đỉnh điểm của sự kỳ ảo, đồng thời cũng là điểm tiến sâu nhất vào nội tâm nhân vật, dẫn đến một bước ngoặt trong nhận thức của nhân vật, qua đó thể hiện những ẩn nghĩa cốt lõi của tác phẩm: phiên chợ âm dương.

“Những ngọn đèn trôi trên sông dạt vào bãi đá dưới cây muỗm già. Khu chợ đông đúc hiện lên trong đêm… Vị thần làng đưa Duyên đi giữa dòng người trong chợ tìm chồng. Cô dừng lại khi nhận ra một dáng người quen thuộc ngồi trong quán nước. Người đó quay lại và ta nhận ra đó là chồng Duyên. Hai người đứng lặng rất lâu. Rồi họ từ từ tiến đến gần nhau… Anh chìa tay ra và chị nắm lấy bàn tay anh. Anh đưa chị len lỏi qua dòng người đi ra bến sông. Những ngọn đèn tụ hội gợi cho ta cảm giác của một bến sông rất đông đúc. Hai người nhìn ra phía dòng sông. Lát sau Duyên quay sang hỏi chồng:

– Anh có muốn dặn dò gì em không?
Người chồng vẫn im lặng nhìn ra dòng sông phía trước.
– Sao anh cứ im lặng thế? – Duyên hỏi tiếp – Hay anh có điều gì oan ức?
Người chồng lắc đầu:
– Anh không có điều gì oan ức cả.
– Vậy sao anh buồn?
– Anh muốn những người còn sống được hạnh phúc.
– Hạnh phúc? – Duyên hỏi lại chồng. Người chồng gật đầu:
– Chỉ có người còn sống mới làm được điều đó. Anh không làm gì được nữa. Anh đã làm xong phần việc của mình rồi.
– Không. Anh vẫn còn sống, lúc nào em cũng nhìn thấy anh ở bên cạnh. – Duyên nói một cách sôi nổi.
Người chồng lắc đầu:
– Cái còn lại mãi mãi là cái không nhìn thấy được.
– Nhưng em vẫn tin rằng anh còn sống. Ở đâu đó… và rồi anh sẽ về với em và con.
– Hãy nhìn thẳng vào sự thật. Sự thật làm cho con người sống can đảm hơn và có trách nhiệm hơn…
– Em vẫn giấu kín với mọi người trong làng, trừ một người… – Duyên ngập ngừng. – Bố vẫn đinh ninh anh thế nào cũng về…
– Đừng để bố phải buồn thêm… Rồi anh sẽ về…
Nói xong anh bỗng biến đâu mất…”

Chợ âm dương vốn chỉ là truyền thuyết, nhưng trên màn ảnh, “cái ảo” đó được thể hiện tinh tế đến kinh ngạc, với ánh sáng của nến và những ngọn đèn dầu, những khuôn mặt hớt hải đi tìm người thân. Không rùng rợn hay sợ hãi, thứ duy nhất hiển lộ là sự thương cảm cho những cuộc gặp gỡ ngắn ngủi chứa dựng chia lìa. Trong khung cảnh đó, Nam nắm tay Duyên dắt đi, nhưng bàn tay hai người không thể chạm vào nhau. Một cách sử dụng ngôn ngữ hình ảnh ảnh xuất sắc. Cộng hưởng với lời thoại rất tinh lọc, vào thời điểm đó, khán giả sẽ thấy hết sự mong manh đến đáng sợ của thân phận và tình yêu con người trong chiến tranh. Trước sự mong manh đó, tương lai và hạnh phúc là những điều vô cùng kỳ diệu, đúng như lời thoại đắc nhất phân đoạn: “Chỉ có người còn sống mới làm được điều đó (hạnh phúc)”.

Có thể nói, bằng cách cắt dựng và sắp đặt tinh tế, đạo diễn và cũng là biên kịch của bộ phim đã cho ta thấy một không gian đan cài giữa hiện thực và ảo ảnh, như một diễn trình song hành với sự đan cài giữa thế giới run rẩy bên ngoài, cùng với đời sống nội tâm phức tạp bên trong của nhân vật chính, người phụ nữ trong chiến tranh. Ngoài ra, chính nhờ cách vận dụng tinh tế những yếu tố kỳ ảo này mà đạo diễn Đặng Nhật Minh đã chạm đến vấn đề vi diệu nhất của văn hoá dân tộc khi kể câu chuyện về một trong những thời kỳ gắn liền với đất nước như một vận mệnh. Cụ thể chính là việc tái hiện thế giới tâm linh của người Việt trong một câu chuyện kể về chiến tranh.

03 02 2014

Cú Mù