Trăng nơi đáy giếng (2008)


Image

Tên phim: Trăng nơi đáy giếng

Hãng phim: Hãng phim Giải Phóng và Phương Nam Phim

Đạo diễn: Nguyễn Vinh Sơn

Kịch bản: Châu Thổ

Nguyên tác: Trần Thùy Mai

Diễn viên: Hồng Ánh

Thời lượng: 120 phút

Giải thưởng: Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất – Liên hoan phin Quốc tế Dubai 2008

IMDB: 7.6/10 | Watching Cafe: ★★★★☆

~oOo~

Một cuộc đời qua những góc quay nghiêng

Nguyễn Vinh Sơn đã mang đến một câu chuyện của riêng mình, một câu chuyện không đến từ sự kiện, từ những kịch tính, mà đến từ cảm giác, từ những khung hình chậm và những góc quay nghiêng. Tưởng như nỗi buồn nhè nhẹ từ giọng kể điện ảnh độc đáo của Vinh Sơn không đủ để gây đau, nào ngờ cơn đau cứ đến âm thầm và quặn thắt, rồi không vỡ òa, mà cứ dai dẳng theo từng chuyển động máy quay. Hạnh – người đàn bà với số phận đặc biệt – hiển hiện với tất cả những gì đẹp nhất và sâu cay nhất. Dõi theo từng góc quay đong chứa bóng hình mảnh khảnh của Hạnh, tôi bất chợt nhận ra, chính từng góc quay này đã làm nên cuộc đời Hạnh bằng một thứ ngôn ngữ của riêng Vinh Sơn: ngôn ngữ điện ảnh thuần túy. Và cũng chính trong địa hạt của những ống kính máy quay, câu chuyện Trăng nơi đáy giếng đã được kể lại thật khác, đầy những day dứt và ám ảnh không tên.

Tấm lưng người đàn bà 

Hạnh là một người phụ nữ Huế, cái vẻ đẹp tính nữ đậm đà trong chị hiện lên qua tất cả những thứ người ta vẫn thường hay dùng để tả một cô gái Huế: nón lá, tóc thề, áo dài và xe đạp. Cái sự ngấp nghé của ống kính trước những chùm bong bóng trong cảnh đầu tiên phim mở ra, hé lộ tấm lưng của Hạnh đang đứng trông thằng Cu Nhất vào trường, một hình ảnh thật đẹp khi nơi cô là tất cả những gì thuộc về truyền thống. Ngay từ những hình ảnh đầu tiên, tấm lưng cô Hạnh đã hiện ra với dân tộc tính đậm đà, nói trước cho người xem về một người phụ nữ của gia đình, chồng con, của tam tòng tứ đức, và có thể, của cả những lễ giáo, hủ tục ràng buộc xa xưa.

Ống kính theo cô trên chiếc xe đạp băng qua chiếc cầu, cũng theo đuổi từ phía sau cái dáng gầy gộc ấy. Đôi bàn chân đạp xe thoăn thoắt, chiếc áo dài màu vàng trong ánh nắng, chiếc nón lá và mái tóc thề. Những lúc cô Hạnh làm việc, ống kính đa phần chỉ quay nghiêng, từ trên xuống hay từ sau lưng. Cô Hạnh ít có những cảnh trực diện. Dường như góc quay muốn lột tả hết cái lom khom tần tảo của người đàn bà này. Lúc cô lấy trà ướp hương sen cho chồng, lúc cô giặt đồ, lúc cô pha trà, thậm chí ngay cả khi cô tự soi mình trước gương, tấm lưng cô như một dấu chỉ của sự âm thầm, không tên, không mặt mũi, chỉ âm thầm trong hy sinh vì chồng và vì cuộc sống của mình. Cuộc đời cô trong mắt kẻ khác chỉ là một ảo ảnh. Cuộc sống cô, trên khung hình, luôn được phản chiếu qua kẻ khác, mà dù là người hay là vật, cũng có những tương quan thầm lặng với cô. Có vẻ như, những khung hình muốn nói lên một sự vật hóa nơi đây khi chính cô Hạnh không có được một cuộc sống của riêng mình. Mà đúng thật vậy, cô sống trong sự hiện diện của người còn lại. Cô mất đi cái độc lập trong sự tồn tại của chính mình, mà chỉ có thể tồn tại trên sự tồn tại của cái mà cô tôn sùng như một vị thánh, mà ở đây chính là Phương, chồng cô. Tấm lưng người đàn bà vén mùng ngồi trên giường, cởi áo để làm chuyện vợ chồng, thật đầy bị động. Như một sự hiến dâng trinh nguyên nhất, người đàn bà trong giây phút ấy chẳng thấy mặt, chẳng biết cảm xúc đang được thể hiện trên nét mặt của cô, nhưng cái cách cô cởi từng chiếc áo, cái cách cô nằm xuống yên vị để chồng cô bắt đầu cuộc yêu, đủ để hiểu rằng cô đang mang cái nỗi e dè và tội lỗi bấy lâu nay: sự vô sinh của mình, lẫn trong đó là một hy vọng mong trời thương cho số phận của cô dù chỉ một lần này thôi.

Sự khắc họa một hình ảnh rất Huế, rất nữ tính từ đằng sau lưng với cái eo thon và một dáng hình mỏng manh đã cho tôi một cảm giác thật trong sáng về người đàn bà này. Tình yêu của cô là trong sáng, trong sáng đến tội nghiệp. Cuộc sống qua từng ngày, từng việc làm của cô cũng trong sáng, và cô thực hiện chúng với tất cả tấm lòng và tình yêu thương hết mực. Đặt ống kính máy quay từ đằng sau lưng, Vinh Sơn muốn khắc họa không phải nét, mà là dáng; không phải cái rõ ràng, mà là cái mờ nhòe; không phải cái cụ thể, mà là cái chung chung, một nét đẹp của rất nhiều người phụ nữ trong cuộc đời này, của rất nhiều cô Hạnh trong những gia đình khác nhau. Nơi góc quay này, tôi tìm được một sự đồng cảm sâu sắc với một cô Hạnh của riêng tôi.

Người đàn bà của những bức mành 

Quyền năng của tiêu cự máy quay chính là tạo ra một tiền cảnh phủ nhòe lên cái được lấy nét ở phía xa, và điều đó được Vinh Sơn vận dụng để diễn đạt một phần cuộc đời Hạnh. Nhiều cú máy đẩy Hạnh về một thế giới cách biệt với con mắt người xem bằng một tấm mành, để ở đó Hạnh được là Hạnh, được thỏa lòng với những cung phụng của riêng mình. Tấm mành cũng là nơi cô vén ra để xuất hiện dưới một tâm thế nào đó mới trước mặt người chồng của mình, đó có thể là khi gọi chồng dậy như gọi một đứa trẻ, đó là lúc bưng mâm cơm lên cho chồng… Dường như cô sẽ sống với những tần tảo riêng cô sau tấm mành, để rồi bước qua đó cô chỉ biết có chồng cô, và thế giới xung quanh mở ra cũng chỉ để phục tùng cho chồng cô mà thôi. Cảnh cô lên giường với chồng, ống kính cũng xuyên qua những sợi mành để tới được thế giới hạnh phúc của cô. Lúc cô tất tả trong bếp dọn cơm cho chồng cùng với cu Nhất, tấm mành cũng ngăn cách cái thế giới cô với người xem, thế giới mà Hạnh khư khư giữ lấy cho tình yêu của mình, một mực giữ đến đáng thương. Tấm mành đẩy người xem về cái miền ngoại quan, để soi rọi vào nội tâm của cô Hạnh, nơi mà dường như cô chẳng muốn ai chạm đến. Nơi mà, như cô nói, “một mảnh vườn cho riêng em”, nơi không ai phải nói gì về cuộc sống của cô, nơi cô sẽ thỏa mãn cái khoái cảm hy sinh của bản thân mình. Rồi khi cô sống một mình trong căn nhà đã từng mang bóng dáng người mà cô tôn thờ, khi cô cầm cây guitar gảy những nốt nhạc của bản Một cõi đi về, khi cô đứng dựa vào tường khoanh tay trong nỗi cô đơn cùng cực, cuộc đời của người đàn bà lúc này chỉ còn nỗi nhớ và nỗi mong mỏi khắc khoải đằng sau những song may. Sự tài tình của Vinh Sơn cũng chính là ở đây, khi chỉ với tấm mành đó đã biến Phương – một người chồng đĩnh đạc, được cung phụng và chăm sóc, nay phải khom lưng giặt đồ khi qua ở với Thắm. Nhìn qua bức mành, Hạnh xót xa cho người chồng của mình, tưởng như nỗi xót xa dâng lên đến nghẹt thở. Bức mành lúc này đã cách ngăn hai con người vốn đã từng gắn với nhau như một, và hoàn toàn đảo lộn vị thế của hai con người ấy.

Nhưng tấm mành Vinh Sơn dựng lên không chỉ là những tấm mành thực. Có những tấm mành vô hình cũng làm cái vai trò tách Hạnh ra một nơi chốn của riêng cô. Đó là tấm mành bằng ánh sáng khi những cảnh cô bên chồng hoàn toàn được quay ngược sáng. Đó là những lúc cô bên con Xám nơi bãi hoang, con chó một mực chờ người chủ dù người chủ của nó đã không còn. Đâu đó cô Hạnh cũng chẳng khác gì con vật kia, trung thành với chồng đến cả lúc chồng đã không còn bên mình nữa. Và bằng hình ảnh con chó, dường như phim muốn khắc họa cuộc đời cô Hạnh, đến cả tương giao với một con chó, cũng bị khước từ. Và cô lại trở về với cuộc sống của riêng cô, với nỗi cô độc và nỗi mong nhớ đằng sau những bức mành.

Người đàn bà và cuộc đời cửa sổ 

Căn nhà Rường của vợ chồng cô với vách tường là những ô cửa sổ nối tiếp nhau, để đón ánh sáng vào nhà mỗi buổi sáng. Một việc làm quen thuộc của cô là mở và đóng hết tất cả những ô cửa sổ ấy từ đầu này đến đầu kia, và Vinh Sơn đã biến thói quen nay trở nên một chi tiết đắt giá đầy ý nghĩa. Hoàn toàn máy quay được đặt từ bên ngoài nhìn vào, qua những ô cửa sổ, qua những bức mành, để thấp thoáng cuộc sống của cô Hạnh đằng sau những ô cửa ấy. Căn nhà trở thành cái thế giới bất khả xâm phạm của cô, và chính nó cũng giam giữ cô trong cái tương quan kỳ lạ với chồng, hay nói đúng hơn, là với một sự hiện diện nào đó chứng mình được sự tồn tại của cô trong cuộc đời này. Khi Hạnh ở bên cạnh Phương, mỗi lần cần mở từng ô cửa sổ là mỗi lần cô mỉm cười, bởi ánh sáng với cô lúc bấy giờ là thứ ánh sáng ngập tràn hạnh phúc với chuỗi ngày đầy màu sắc. Cũng chính thứ ánh sáng này tràn ngập khi cô làm vợ Ông Tướng, ánh sáng như thể hạnh phúc của cô Hạnh, nhưng bấy giờ cái thứ ánh sáng hạnh phúc ấy qua những ô cửa sổ lại gây nhói lòng ở người xem khi nhìn cô Hạnh chăm chút cho những hình nhân giấy. Khi đêm đến, con đường đóng lại những ô cửa sổ cũng là con đường dẫn cô đến với chiếc giường nơi cô sẽ có một giấc ngủ thật ấm bên cạnh Phương. Lúc này người đàn bà khép lại thế giới của mình để dành trọn cho chồng cả tình yêu và thân xác. Khi cô chỉ còn ở một mình, những ô cửa không buồn mở nữa. Chỉ mình cô trong đó. Rồi khi cô làm vợ Ông Tướng, cô thay ổ khóa cho những cánh cửa, một ổ khóa mới, và một cuộc đời mới. Phương bấy giờ trở thành người dưng khi đứng ngoài những ô cửa vốn đã từng là cuộc sống của mình. Chiếc chìa khóa của Phương đã không còn tương hợp với ổ khóa của những ô cửa. Đời sống của Phương bây giờ nằm ngoài cuộc đời Hạnh. Hạnh đã dành nửa đời người cho Phương, bây giờ, Hạnh tiếp tục cuộc đời của mình với người chồng cõi âm, một cuộc đời duy nhất cô cho là có ý nghĩa. Và cuộc đời cô Hạnh mãi là một cuộc đời cửa sổ. Cô đã lựa chọn, mỗi lần đóng mở cửa, cô đã từng phải lựa chọn liệu khép cửa sống trong thế giới của riêng mình, hay mở lòng đón lấy thế giới bên ngoài, và cô đã chọn ở trong mảnh vườn của riêng cô, nơi cô tưới từng khóm cỏ bụi cây, nơi cô tiếp tục hàng ngày ướp trà vào từng cánh sen thơm, nơi cô sống với niềm hạnh phúc bất tận của riêng mình mặc cho thế giới ngoài kia lũ trẻ vẫn chơi đùa, cảnh vật vẫn mênh mông gió lộng. Cảnh cuối phim bình lặng trôi qua, mà cơn đau cứ len lỏi âm thầm đến nấc nghẹn. Cơn đau len theo những dòng thơ cô Hạnh đã làm, gửi gắm trong đó những ước mong của một phận người:

Em tìm kiếm mảnh vườn cho riêng ta
Nơi chỉ có anh và em trong đó
Nơi chỉ có anh cùng em và cây cỏ
Để ta nghe lòng mình khi cơn gió thoảng qua.
Em tìm kiếm mảnh vườn cho riêng ta
Nơi bóng lá xanh chập chờn nắng gió
Nơi anh cùng em bình yên trên thảm cỏ xa cách cuộc đời
Em chỉ kiếm một mảnh vườn riêng thôi bởi cuộc đời không thật…
…bởi tình yêu không ân hận
Để ta nhớ nơi ghi dấu ấn cho tâm hồn
Khi chiều về cây lá cũng bâng khuâng
Em lại thiếu anh ôi thiếu vô chừng
Hãy ở lại cùng em nơi vườn xuân hoang dã
Để nghe tiếng thì thầm của tình yêu nghiệt ngã si mê

Người đàn bà sau những đóa sen 

Những đóa hoa sen qua góc quay của Vinh Sơn bỗng trở nên cuộc đời của Hạnh. Rất nhiều cảnh quay lấy hoa sen làm tiền cảnh, và đặc biệt hơn, hình như hoa sen xuất hiện nhiều lúc Hạnh ở bên Cu Nhất. Lúc Hạnh tắm cho con, lúc cô ru con ngủ, lúc cô cùng con bỏ từng muỗng trà vào cánh sen…, hoa sen như niềm hạnh phúc trong trẻo của cô, niềm hạnh phúc tưởng như cô chẳng bao giờ có được với một đứa con thực sự của riêng mình. Loài hoa tinh khôi ấy đã chứng kiến niềm vui vô cùng của một người mẹ khi được ở cạnh một đứa trẻ, và loài hoa ấy cũng đã hóa thân thành người mẹ, người vợ mang trong mình tình yêu ngây dại ban nhiên. Khi dọn dẹp nhà mới cho Phương và Thắm ở, Hạnh cũng cho chở tới một chậu sen nhỏ đặt cạnh nhà. Hình như đó là cái lưu luyến cuối cùng của cô, niềm hy vọng mong manh của cô, cái vị kỷ nhỏ bé ít ỏi của cô mong chồng sẽ luôn nhớ tới mình. Những cảnh quay vang lên tiếng cười con trẻ, lời ru thiết tha của Hạnh, với sắc hồng của những đóa sen, len lỏi đâu đó trong lòng người một nỗi vui giản dị, nhưng ẩn sau đó là cái xót xa, cay đắng khi đứa con kia rồi cũng sẽ chỉ là một niềm mơ ước.

Hạnh – người đàn bà sau những đóa sen, người đàn bà mãi mãi giữ yêu thương như một thứ nước trong mát ngọt lịm của cuộc đời mình. Trong mảnh vườn của riêng cô, cô sẽ hàng ngày nâng niu những bông sen như nâng niu chính tình yêu của mình dành cho chồng, dù là Phương hay một người chồng cõi âm, miễn ai đó để cô yêu, để cô cung phụng, để cô chứng tỏ sự tồn tại của mình qua việc trở thành một phần trong cuộc sống người khác, cũng đã là quá đủ. Cô đã lựa chọn cho mình cuộc đời của một bông sen, cắm chân một chỗ trong bùn, và luôn thơm cái hương tình trong sáng, sắt son, luôn giữ cái lẽ hy sinh chân thành như một lẽ sống của đời mình.

14 01 2014

Thiên Huân