ShortFilm Project – Phim ngắn siêu thực


Surrel Short film

~oOo~

Như vậy, điện ảnh ra đời và nhanh chóng phát triển vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Đây là thời kỳ mà con người đang rất tự tin vào khả năng sáng tạo vô biên của mình. Rất nhiều phát minh, tư tưởng, sáng tạo của các nhà khoa học, nghệ sĩ lần lượt xuất hiện trên khắp các lĩnh vực với những cái tên như Sigmund Freud, Marie Curie, Thomas Edison, Nikola Tesla, Max Planck, Henri Poincaré, Guglielmo Marconi, Bertrand Russell, Paul Ce1zanne, Pablo Picasso, Marcel Proust, James Joyce, Henry Ford, Herman Hollerith… Với tinh thần tin tưởng tuyệt đối ấy, điện ảnh cũng được biết đến như một phép màu thực thụ do chính con người tạo ra, như một minh chứng mạnh mẽ cho khả năng kiểm soát thế giới của con người, góp phần kích thích niềm say mê cuồng nhiệt đối với khoa học. Để rồi nhân loại ngay lập tức vấp phải những cú sốc liên tiếp trước một thế kỷ vĩ đại nhưng quá nhiều đau thương. Tính ổn định của đời sống, khả năng thao túng của con người ngay lập tức bị phủ nhận bởi hai cuộc chiến tranh thế giới. Sự khốc liệt của chúng không chỉ gây nên một cục diện xã hội hoang tàn mà còn làm đổ vỡ niềm tin của con người vào chính bản thân mình. Cái tinh thần phơi phới trước một thế kỷ đầy triển vọng đã mất đi. Bạo lực và hỗn loạn đã làm bùng nổ hàng loạt những trào lưu tư tưởng, liên tục nảy sinh và phát triển, thế giới thoáng chốc đã bộc lộ hết tính tương đối, bất định của nó. Trên suốt chặng đường ấy, điện ảnh không còn tồn tại với một lớp vỏ hào nhoáng và  đầy ma mị nữa, nó trở thành một công cụ để biểu lộ hiện thực, thể hiện tư tưởng. Theo đó, hàng loạt phim ngắn thuộc các trường phái khác nhau ra đời. Và cũng chính từ đây, phim ảnh không còn là một dạng sáng chế câu khách, đậm tính thương mại, được đem trình chiếu, triển lãm ở các hội chợ như xưa. Điện ảnh nói chung và phim ngắn nói riêng giờ đây đã khoác lên mình một diện mạo mang tính hàn lâm hơn, chỉnh chu hơn và nghiêm túc hơn. Trong phần này, chúng tôi chỉ xin trình bày về phim ngắn của một số trường phái mà người viết cho là nổi bật nhất và có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất.

Phim ngắn siêu thực

Phim ngắn siêu thực là một dạng biểu hiện, thể nghiệm thuộc chủ nghĩa siêu thực (surrealism), vốn nằm trong một phong trào đổi mới nghệ thuật phát triển rất mạnh mẽ vào những năm 1910, 1920, trên toàn châu Âu và một số nước châu Mĩ-Latin khác, mang tên Avant-garde. Theo đó, hàng loạt các trường phái liên tục nổi lên như chủ nghĩa ấn tượng ở Pháp, chủ nghĩa cấu trúc ở Liên bang Soviet, chủ nghĩa biểu hiện ở Đức, chủ nghĩa vị lai ở Ý, chủ nghĩa hiện đại ở Brasil… Đúng như tên gọi “avant-garde” (trong tiếng Pháp có nghĩa là “người tiên phong”), các trào lưu này đã cho ra đời hàng loạt bút pháp sáng tác đặc trưng, góp phần làm phong phú cho diện mạo nghệ thuật đương thời trên rất nhiều lĩnh vực mà tiêu biểu nhất là hội họa, văn chương và phim ảnh. Riêng với điện ảnh, phim ngắn là một trong những thể loại đầu tiên được đem ra thể nghiệm nhờ tính độc lập của nó. Cụ thể là vào thời đại mà phim truyện chỉ mới bắt đầu được sản xuất ồ ạt bởi các công ty thương mại lớn thì phim ngắn là một thể loại “gọn gàng” hơn, dễ đầu tư tài chính cũng như thể nghiệm ý tưởng hơn rất nhiều. Chính vì thế mà đa số nghệ sĩ thuộc các trào lưu này đều chọn phim ngắn để thể hiện ý tưởng của mình. Trong đó, phim ngắn siêu thực là một trong những xu hướng nổi bật nhất.

Do bản thân chủ nghĩa siêu thực có mối liên hệ mật thiết với chủ nghĩa Dada và cả hai đều là khuynh hướng nổi trội trong phong trào “avant-garde” nên trước khi đi vào nghiên cứu phim ngắn siêu thực, việc điểm qua vài phim ngắn thuộc chủ nghĩa Dada là hoàn toàn cần thiết. Trước hết, nói đến chủ nghĩa Dada là nói đến một trào lưu đại diện cho sự đổ vỡ của lý tưởng về sự ổn định trong nghệ thuật nói chung và xã hội nói riêng. Nó mang tính chất phản kháng đối với chiến tranh, chỉ rõ sự chuyển di trong tâm thức con người từ xác định đến bất định. Chính vì thế, các tác phẩm nghệ thuật của những nghệ sĩ thuộc trường phái Dada thường chú trọng đến tính ngẫu nhiên và tự động của quá trình sáng tạo nghệ thuật, đề cao sự cắt ghép tùy hứng cũng như xem những sản phẩm công nghiệp làm sẵn (“ready-made”) như một chủ đề cho sáng tác. Cùng bị chi phối bởi tư tưởng đó, những phim ngắn Dada cũng được sản xuất với một tinh thần đầy nổi loạn mà được biết đến nhiều nhất là những phim như: Diagonal Symphony của Viking Eggeling, Rhythymus 23 của Hans Richer, Return to Reason của Man Ray và Entr’acte của René Clair. Những phim này đều thể hiện sự ngẫu nhiên, bất quy tắc. Từ những mô hình đường chéo hỗn độn trong Diagonal Symphony của Viking Eggeling cho đến những hình ảnh vốn bình thường nhưng bỗng trở nên quái dị khi xoay vần nhau như đinh, vòng ngựa quay của trẻ con hay tượng bán thân phụ nữ… trong Return to Reason. Tất cả đều hỗn loạn. Chính sự hỗn loạn trong đề tài, ý tưởng, lẫn cách thể hiện này đã dẫn đến sự chia rẽ dĩ nhiên trong nội bộ những người theo trường phái Dada. Nếu như những nhà làm phim thuộc nhóm Zurich ở Thụy Sĩ (gồm cả Eggeling và Richer) theo khuynh hướng trừu tượng hoàn toàn thì các nhà làm phim Dada tại Paris lại chú trọng vào nội dung “phản tư bản”, cụ thể là làm trái lại những nguyên tắc của phim câm thương mại đương thời ở Hollywood. Trong số đó, nổi bật nhất chính là René Clair với Entr’acte (1924). Mới xem qua, ta có thể thấy phim ngắn này tận dụng triệt để những nguyên tắc tự sự, tuy nhiên, mạch truyện lại hầu như không mạch lạc cho lắm khi mà người xem lần lượt gặp phải các hiệu ứng xen ngang đột ngột như những cú quay bất chợt, những hình ảnh chồng lên nhau cũng như kỹ thuật tăng tốc hoặc giảm tốc của điện ảnh cứ trở đi trở lại. Bên cạnh đó, những thủ thuật cắt dựng, sắp đặt nhằm tạo nên kịch tính cho phim, làm nổi bật những góc quay sáng tạo cũng thường xuyên được sử dụng. Nói tóm lại, đây là một bộ phim ấn tượng theo kiểu của trường phái này.

Tuy nhiên, bộ phim nói trênlại được sản xuất vào giai đoạn chủ nghĩa Dada ở Pháp đang dần tàn lụi, nhường chỗ cho một trào lưu mới có vẻ quy củ hơn, mạnh mẽ hơn khi dựa trên nhiều lý thuyết cụ thể, đặc biệt là chủ thuyết của Sigmund Freud. Đó chính là chủ nghĩa siêu thực với đại diện là André Bréton. Vị thống soái này đã từng định nghĩa như sau trong bản tuyên ngôn đầu tiên của chủ nghĩa siêu thực: “Chủ nghĩa siêu thực, danh từ giống đực, cơ chế tự động của tâm lí thuần khiết được dùng để diễn tả hoạt động đích thực của tư tưởng hoặc bằng ngôn từ, hoặc bằng chữ viết, hoặc bằng mọi cách thức khác. Được tư tưởng xui khiến, vắng mặt mọi sự kiểm soát của lí trí, ngoài mọi thành kiến mỹ học và đạo đức”[1]. Riêng trong điện ảnh, chủ nghĩa siêu thực phát triển mạnh trong giai đoạn 1924-1930. Với tính chất nổi loạn đầy mạnh mẽ của mình, hầu hết các nhà làm phim siêu thực phải làm việc tách biệt với nền công nghiệp điện ảnh đương thời và chủ yếu dựa trên nguồn tài chính cá nhân. Do đó, phim ngắn một lần nữa lại là phương tiện hữu hiệu dành cho họ. Nhưng nguyên nhân của sự kết hợp giữa điện ảnh và chủ nghĩa siêu thực không chỉ có thế. Trào lưu này vốn dựa rất nhiều vào lý thuyết của Freud, chú trọng vào những khái niệm như “giấc mơ” (dreams), “xung năng tính dục” (libido) và đặc biệt là “vô thức” (id). Cùng thâm nhập vào thế giới vô thức của con người, nếu như chủ nghĩa siêu thực ở văn chương nhấn mạnh vấn đề bản ngã, cái tôi (ego) và vô thức cá nhân thì chủ nghĩa siêu thực trong điện ảnh lại chú trọng nhiều hơn đối với khái niệm giấc mơ bởi lẽ: “Ngay từ lúc bắt đầu, khán phòng đã được bao trùm bởi bóng tối như thể bạn đang nhắm mắt lại. Bạn thấy mình tách biệt khỏi đám đông xung quanh, toàn thân bạn trải qua cảm giác phi nhân hóa; tiếng nhạc đều đặn củng cố thêm thính giác của bạn; cổ bạn giữ vững và bạn nhìn chăm chăm về một hướng duy nhất;cứ như thể bạn đang tiến dần vào giấc ngủ” (“To begin with, entering the dark auditorium was like closing yours eyes. Your isolation from the crowd, your body submitting to a feeling of depersonalisation; the droning music obdurating the sense of hearing; the stiffness of the neck necessary for the gaze’s orientation; all of this was like going to sleep”-Jacques Brunius)[49]. Có lẽ sự tương cận này chính là một trong nhiều nguyên nhân khiến điện ảnh trở thành một trong những thể loại nghệ thuật đầu tiên được các nhà siêu thực để mắt tới. Tiêu biểu nhất trong số đó phải kể đến cặp đôi Salvado Dalí và Luis Buňuel.

Thật ra, trước Dalí và Luis Buňuel, đã từng có một đôi cộng sự nổi bật khác gồm Antoin Artaud, một biên kịch người Pháp và nhà làm phim Germanine Dulac, từng bắt tay sản xuất phim ngắn siêu thực đầu tiên dài 31 phút mang tên The Seashell and the Clergyman. Tuy nhiên, vì là kẻ tiên phong nên nó không thể nào đạt đến độ sắc sảo như phim ngắn nổi tiếng của Dalí và Buňuel. Đó chính là Un Chien Adalusia, một phim ngắn gây chấn động thời bấy giờ, khiến cho hiện nay, rất nhiều các giáo trình giảng dạy, sách nghiên cứu điện ảnh đều phải nhắc đến nó. Phim gây ấn tượng nhất bởi những cảnh kinh dị. Người đàn ông dùng lưỡi dao vừa mài bén cắt ngang tròng mắt của một người phụ nữ ngồi yên bất động, một đàn kiến ùa ra từ lỗ thủng của một bàn tay…

Phim để lại cảm giác rất rùng rợn. Ngay buổi công chiếu, có rất nhiều người phải hét lên kinh hoàng khi xem đến[36]. Chính vì ấn tượng mạnh mẽ như thế nên đã có hoàng loạt cách biện giải được đề xướng để góp phần làm rõ ý nghĩa của phim. Riêng cá nhân Luis Buňuel, người vốn cho rằng điện ảnh chính là “phương tiện nghệ thuật tốt nhất để biểu lộ thế giới của những giấc mơ, của cảm xúc và bản năng”(“The best instrument to express the world of dreams, of emotions, of instinct”)[26], đã khẳng định rằng cách duy nhất để lý giải phim ngắn này chính là một hướng thuộc phân tâm học. Bộ phim ngay lập tức đã nhận được sự ca ngợi từ chính vị thống lĩnh của chủ nghĩa siêu thực, André Breton[36]. Nó được xem là một phim siêu thực thật thụ với sự kết hợp của rất nhiều yếu tố đặc trưng như tính phi logic, tình dục, giấc mơ, kinh dị và hiển nhiên, tính gây sốc. Bên cạnh đó, theo các nhà nghiên cứu điện ảnh hiện nay, nó còn chứa đựng rất nhiều ngụ ý “phản tư bản” và đồng thời được cấu trúc bởi những sáng tạo kỳ lạ trong kỹ thuật làm phim. Nói chung, đúng theo tiêu chí của chủ nghĩa siêu thực vốn muốn tạo ra những hình ảnh thực hơn bản thân đời sống, mô tả thực tại của vô thức con người, Un chien Adalusia đã mở ra trước mắt chúng ta một thế giới kỳ dị, ấn tượng đến nỗi hơn bảy mươi năm sau, khán giản vẫn còn có thể ngỡ ngàng trước những cảnh quay bất hủ ấy.

Có thể thấy rằng, tuy là một trào lưu tồn tại trong một thời gian ngắn, nhưng chủ nghĩa siêu thực đã có những ảnh hưởng mạnh mẽ đối với nghệ thuật nói chung và phim ngắn nói riêng. Trong và sau thời đại “avant-garde”, có rất nhiều tên tuổi lớn trong địa hạt phim ngắn đã tiếp tục phát triển “tinh thần siêu thực” đầy tiềm năng ấy như Stan Brakhage (Mĩ), Maya Deren (Ukraine), Alain Resnais (Pháp), Alejandro Jodorowsky (Chile) và Peter Wollen (Anh).

(Trích từ “Tìm hiểu thể loại phim ngắn” – 2013)

Cú Mù – Thiên Huân