ShortFilm Project – Phim ngắn hiện thực


b_thieves_061609.pdf

~oOo~

Phim ngắn hiện thực

        Nếu như phim ngắn siêu thực đem đến cho khán giả một cái nhìn đầy hư ảo thì phim ngắn hiện thực lại trái ngược hoàn toàn, nó chủ trương đối hẳn với những gì siêu thực quan niệm, tập trung vào con người trong mối quan hệ với xã hội, với hiện thực đời sống. Thật ra, khái niệm “hiện thực” trong điện ảnh cũng mang nghĩa tương tự như trong các loại hình nghệ thuật khác. Bởi suy cho cùng, nhiệm vụ chủ yếu của nghệ thuật chính là làm biểu lộbản thân đời sống con người. Theo đó, với phim ngắn nói riêng và điện ảnh nói chung, “trào lưu hiện thực” cũng được tạo nên bởi các nhà lý luận điện ảnh, các nhà làm phim cùng với hoạt động sản xuất, phê bình vàxuất hiện muộn hơn so với các bộ môn nghệ thuật khác. Nếu như chủ nghĩa hiện thực trong văn chương được cho là xuất hiện vào giữa thế kỷ thứ XIX với nhà văn Pháp Champfleury khi ông đặt tên cho một tuyển tập các bài báo của mình là “chủ nghĩa hiện thực” (Réalisme, 1857)[12], thì chủ nghĩa hiện thực trong điện ảnh phát triển vào khoảng đầu thế kỷ thứ XX với hai trào lưu chính, một thuộc bờ tây Đại Tây Dương với Hollywood, một thuộc bờ đông với điện ảnh châu Âu.

        Kiểu phân chia nói trên bắt nguồn từ sự phát triển mạnh mẽ của điện ảnh Mĩ với tiềm năng kinh tế dồi dào, từ đó thống trị điện ảnh thế giới với những chuẩn mực riêng của người Mĩ. Các studio chuyên nghiệp dần hình thành và phát triển mạnh mẽ vào thập niên 1930, 1940. Theo đó, đa số các phim truyện đều được sản xuất với kinh phí cao, đầu tư đầy đặn và tham vọng tạo ra một “hiện thực mới” trong điện ảnh, nghĩa là biến những thước phim thành đời thực và muốn khán giả tin vào những câu chuyện được kể trên màn bạc. Trước hoàn cảnh đó, các nhà làm phim châu Âu đã có phản ứng mạnh mẽ đối với kiểu sản xuất phim đậm tính thương mại này. Cùng tinh thần muốn phát triển điện ảnh thành một loại hình nghệ thuật chuyên nghiệp và có giá trị nghệ thuật cao, họ chủ trương một dạng điện ảnh bám sát vào đời sống, phản ánh thực tại như nó là và loại bỏ hết tất cả những xảo thuật nghề nghiệp nhằm tăng doanh thu. Chính điều này đã cho ra đời một “trào lưu hiện thực” trong điện ảnh, tách biệt hẳn với nền công nghiệp phim ảnh mang đậmphong cách Hollywood. Họ muốn sản xuất những bộ phim mang hơi thở hoàn toàn khác. Nhà lí luận điện ảnh André Bazin sau này đã từng cho rằng:“Lần đầu tiên, những hình ảnh của thế giới được tự động dựng nên mà không có bất kỳ sự can thiệp nào của con người.” (“For the first time, an image of the world is framed automatically, without the creative intervention of man.”)[58]. Ở đây, ta có thể hiểu rằng André Bazin muốn tách trào lưu phim hiện thực ra khỏi những cách làm phim cầu kỳ, đậm tính hình thức, chỉ chú tâm vào những vấn đề kỹ thuật, dàn dựng, từ đó tạo ra một thực tại trên phim ảnh khác với thực tại đời sống, như Cesare Zavattini, biên kịch nổi tiếng của rất nhiều phim ngắn và series truyền hình thời Tân hiện thực, đã từng nói: “Trong khi chúng ta hứng thú với những hiện thực xung quanh mình …[thì] hiện thực trong các phim Mĩ lại bị sàng lọc một cách trái tự nhiên.” (“While we are interested in the reality around us…reality in American films is unnaturally filtered”)[23]. Tiếp thu điều này, các nhà làm phim châu Âu mới tìm cách cắt giảm mọi sự cầu kỳ, đơn giản hóa phim ảnh, chủ trương sản xuất phim với kinh phí thấp, tránh khỏi mọi sự tương đồng với phim Hollywood, đối trọng của họ trong quan điểm sáng tạo.Chính từ phương pháp này, các nhà hiện thực đã tạo điều kiện cho phim ngắn hiện thực nở rộ. Tuy nhiên, cũng cần nói thêm rằng, dù ý tưởng hình thành “trào lưu hiện thực” bắt nguồn từ châu Âu, nhưng tinh thần của nó còn lan rộng ra nhiều khu vực khác, thậm chí ảnh hưởng đến phim ngắn của các đạo diễn người Mĩ như Robert J. Flaherty hay Orson Welles.

        Đối với trào lưu hiện thực, thể loại được ưu tiên trước nhất tất nhiên là phim tài liệu ngắn mang đậm tính thời sự, thứ cần giữ sự trong sáng trước hết. Tiếp đến là những phim chính kịch, khắc họa cụ thể đời sống của xã hội đương thời với đủ mọi tầng lớp nhân dân. Hơn cả, chủ nghĩa hiện thực đặc biệt quan tâm đến những thân phận khuất lấp, những tầng lớp thấp cổ bé họng trong xã hội. Theo nghĩa này, phim ngắn hiện thực dễ dàng tiến sâu vào đời sống xã hội với sự ngắn gọn như một “lát cắt đời sống” của mình. Các đạo diễn tận dụng tối đa những thủ pháp như cú quay dài (long take), sự tập trung vào chi tiết (depth of focus) hay quay toàn cảnh (panchromatic) kết hợp với việc sử dụng các diễn viên không chuyên và bối cảnh không dàn dựng, tất cả đều hướng đến mục đích nâng cao tính chân thực của tác phẩm điện ảnh. André Bazin cho rằng, những phim hiện thực manh nha ngay từ thời kỳ đầu, khi các phim ngắn của anh em nhà Lumière được trình chiếu với những thước phim được ghi lại mà không có bất kỳ một sự sắp đặt công phu nào. Ta có thể thấy rõ điều đó qua Workers leaving the Lumière factory, L’arrivée d’un Train en Gare hay L’Arroseur arrosé.Sau đó, Bazin thấy được sự tiếp diễn của khuynh hướng này ở Robert J. Flaherty, F. W. Murnau, sau đó được củng cố bởi William Wyler, Orson Welles và đạt đến sự phát triển tột bật với trường phái Tân hiện thực Ý. Trong các tác giả trên, ngoại trừ F. W. Murnau hầu như không hứng thú với phim ngắn khi trong sự nghiệp chỉ có một phim ngắn duy nhất mang tên Die Austreibung, thì các đạo diễn còn lại đều nhiều lần bắt tay vào làm phim ngắn, đặt biệt là ở giai đoạn đầu của sự nghiệp. Nếu như Robert J. Flaherty, người nổi tiếng với phim tài liệu dài Nanook of the North (1922), có kinh nghiệm tuyệt với với những bộ phim tài liệu ngắnhết sức chân thực trong những năm 30 như The Potteerymaker(1925), Twenty-Four-Đô-la Island (1927), The Glassmakers of England, The English Potter, Industril Britain, Art of the English Craftsman (1933), thì William Wyler một đạo diễn người Mĩ gốc Đức lại sở hữu một lượng phim tự sự ngắn nhiều đến kinh ngạc, chỉ trong ba năm, 1925-1927, ông đã cho ra đời hơn 21 phim ngắn. Nối tiếp giai đoạn tiền đề này chính là các đạo diễn thuộc trào lưu Tân hiện thực, nổi lên ngay sau Thế chiến thứ II tại Ý với tham vọng khắc họa một “hiện thực mới” cho đất nước mình, phủ nhận điểm nhìn phát-xít. Phong trào này bùng nổ ở Ý và sau đó lan rộng khắp châu Âu, châu Mĩ rồi khắp thế giới, đến với những nước cùng chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc chiến như Nhật Bản hay các nước trong khu vực Đông Á. Tuy nhiên, theo khảo sát của chúng tôi, số lượng phim ngắn được sản xuất vào giai đoạn này khá ít. Có thể lý giải rằng ngay sau năm 1945, khi mà trào lưu hiện thực đã hình thành và phát triển đến một mức độ nhất định, các đạo diễn lúc bấy giờ đều đã có đủ điều kiện về cả chuyên môn lẫn quan hệ tài chính để sản xuất phim truyện nên phim ngắn ít được để tâm. Ngay cả một nhân vật rất nổi tiếng của trào lưu tân hiện thực, Roberto Rossellini cũng chỉ sản xuất phim ngắn ở giai đoạn đầu trong sự nghiệp của mình, nghĩa là trước năm 1941 với một lượng lớn phim tài liệu ngắn. Thời kỳ này có sự xuất hiện liên tiếp của rất nhiều nhà lí luận điện ảnh thời bấy giờ như André Bazin, Cesare Zavattini…đã tạo nên nền tảng cho một cơn bùng nổ khác của điện ảnh, nơi hứa hẹn sẽ là “miền đất hứa” cho thể loại phim ngắn. Đó chính là trào lưu Làn sóng mới ở Pháp (French New Wave) với tờ tạp chí điện ảnh nổi tiếng mang tên “Cahiers du Cinema” xuất bản tại Pháp, “diễn đàn” của các nhà lí luận, phê bình điện ảnh và các nhà làm phim với những tên tuổi lớn như Jean-Luc Godard, André Bazin, François Truffaut, Éric Rohmer, Claude Chabrol, Jacques Rivette, Agnès Varda, Jacques Demy… Chính nhờ có được diễn đàn chuyên nghiệp như thế, Làn sóng mới là nơi tập hợp của rất nhiều quan điểm điện ảnh, từđiện ảnh truyền thống Hollywood cho đến trào lưu hiện thực, tân hiện thực, chủ nghĩa hiện sinh… Nó mở ra một nền tảng lý thuyết đa dạng và phong phú cho các đạo diễn trẻ tự do tiếp nhận. Nói cho cùng, Làn sóng mới cũng là trào lưu của những người trẻ, khi họ lên tiếng đòi hỏi điện ảnh phải mở đường cho một “thế hệ mới” (new generation), một thế hệ hậu chiến, một thế hệ tách rời hoàn toàn khỏi những chấn thương trước đó với những góc nhìn riêng biệt, khách quan hơn, độc đáo hơn. Bên cạnh đó, Làn sóng mới cũng được tạo nên nhằm giúp những nhà làm phim trẻ dễ dàng hơn trong việc thâm nhập vào nền công nghiệp điện ảnh vốn bị “chiếm chỗ” bởi những tên tuổi gạo cội từ buổi khai phá đầu thế kỷ. Chính vì lí do đó mà phim ngắn cực kỳ phát triển trong giai đoạn này với hàng loạt những phim ngắn đầu tay của những tên tuổi rất nổi tiếng sau này như Jean Rénoir với Salute to France (1944), Jean-Luc Godard với Une femme coquette (1955), Charlotte et Véronique, ou Tous les garçons s’appellent Patrick (1959)Charlotte et son Jules (1960) hay Une histoire d’eau (1961) và Alain Resnais, nổi tiếng nhất với hai phim tài liệu ngắn Nuit et brouillard (1955), Toute la mémoire du monde (1956). Có thể nói, Làn sóng mới xuất hiện đã góp phần dung hòa sự tách biệt giữa các trường phái, củng cố nền tảng lí luận, tạo điều kiện cho sự phát triển của điện ảnh như một loại hình nghệ thuật mới của nhân loại.

        Từ đầu thế kỷ XXI đến nay, phim ảnh nói chung và phim ngắn nói riêng không còn được sản xuất chỉ để phục vụ cho một chủ thuyết nào. Không còn phim ngắn hiện thực hay phim ngắn tân hiện thực nữa. Khi lí luận điện ảnh đã bước đầu bắt kịp với lí thuyết của các ngành nghệ thuật khác, không còn bất kỳ sự phân biệt rạch ròi nào, người xem chỉ quan tâm đến “tính hiện thực” trong từng tác phẩm điện ảnh. Những năm gần đây, bên cạnh xu hướng làm phim theo tinh thần mới của thời đại mới với những thể nghiệm lạ lẫm, phim ngắn vẫn bám rất sát với hiện thực đời sống, mang đậm tính thời sự khi luôn kịp thời phản ánh những sự kiện nổi bật và hơn thế, còn góp phần làm bộc lộ bản chất của thế kỷ vừa mới bắt đầu này. Hiện nay, có rất nhiều tổ chức khởi xướng các cuộc thi làm phim ngắn theo từng chủ đề cụ thể mang tính thời sự, như một ví dụ điển hình cho tính hiện thực của phim ngắn. Chẳng hạn như loạt phim ngắn kỉ niệm ngày 11/9 mang tên “11’09’’01-September 11” với sự tham gia của hàng loạt các đạo diễn tài năng trên khắp thế giới.Một mặt, chiến dịch này chia sẻ nỗi đau với nước Mĩ, mặt khác, nó góp phần phơi bày bản chất dễ tổn thương của thế giới hiện đại, khi mà một quốc gia hùng mạnh vẫn còn có thể bị khủng bố kinh hoàng đến thế. Nói tóm lại, phim ngắn hiện thực là một trong những dòng chảy chính thống của phim ngắn nói chung, bắt nguồn từ những trào lưu khẳng định tính hiện thực trong điện ảnh của thế kỷ trước, từ đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong cách làm phim hiện đại, giúp hiện thực trở thành một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá một bộ phim hay.

(Trích từ “Tìm hiểu thể loại phim ngắn” – 2013)

Cú Mù – Thiên Huân