The phantom of the opera (2004)


phantom_of_the_opera_ver4

Tên phim: The phantom of the opera | Bóng ma nhà hát

Hãng phim: Really Useful Films,  Joel Schumacher Productions, Odyssey Entertainment
Scion Films

Đạo diễn: Joel Schumacher

Kịch bản: Joel Schumacher, Andrew Lloyd Webber

Âm nhạc: Andrew Lloyd Webber

Diễn viên chính: Gerald Butler – Erik hay Bóng ma, Emmy Rossum – Christine Daae, Patrick Wilson – Tử tước Raoul de Chagny

Giải thưởng: Phim nước ngoài hay nhất – Giải Hàn lâm Điện Ảnh Nhật Bản và đề cử 3 giải Oscar năm 2005

IMDb: ★★★½☆

 ღஐ๑o๑ஐღ

 Từ khi truyện The phantom of the opera xuất bản cho đến khi được dựng lại nhiều lần trên phim, người ta vẫn luôn ấn tượng về nhân vật Phantom hay Bóng ma là một kẻ gớm guốc, rất đáng kinh sợ mà phần nhiều là từ khuôn mặt của một kẻ bị xã hội ruồng bỏ gây ra. Vì vậy, khi đến với phiên bản được dàn dựng năm 2004, tôi đã rất ngỡ ngàng vì bộ phim này thật mượt và khá lãng mạn so với yếu tố phiêu lưu, kinh dị được biết trước đó. So với những gì tôi từng cảm nhận được từ The phantom of the opera 1925 thì đây là một bước tiến rất dài khi thay đổi hình tượng về Bóng ma cũng như câu chuyện tình yêu của Christine Daae .

Câu chuyện trong phiên bản phim năm 2004 gần như vẫn tuân theo nguyên tác của Gaston Leroux được xuất bản năm 1911. Nhân vật trung tâm là một huyền thoại của nhà hát lớn Paris, được đặt trong bối cảnh những năm 1870. Lần này Gerald Butler vào vai Erik, trở thành Bóng ma đẹp trai nhất trong số tất cả các Bóng ma đã được đưa lên màn ảnh. Với một bộ mặt bị hủy hoại một nửa và đeo mặt nạ, Bóng ma tạo cảm giác tò mò cho người đối diện hơn là sự sợ hãi của một kẻ giấu mặt hoàn toàn. Gerald Butler đã khắc họa Bóng ma với cuộc sống khá ngăn nắp trong âm thầm. Vì vậy, cảm giác của Christine Daae rất khác khi lần đầu tiếp xúc với người thầy hay ân nhân của cô, thay vào ấn tượng nghi ngờ là sự háo hức khi thăm hầm ngầm của nhà hát, đồng thời, cô không chán ghét Bóng ma khi nhìn thấy nửa khuôn mặt bị hủy hoại. Khi sự kinh ngạc qua đi, trong trái tim cô ca sĩ chỉ còn lòng trắc ẩn, xáo trộn trong tình cảm. Bên cạnh đó, anh chàng Tử tước Raoul de Chagny do Patrick Wilson thể hiện lại có khá nhiều đất diễn, cộng thêm một ngoại hình ưa nhìn khiến cho câu chuyện trở thành một chuyện tình tay ba rõ ràng. Vì thế, thay vì sợ hãi Erik lại có nhiều người ủng hộ Bóng ma hơn trong phiên bản này. Điểm gay cấn duy nhất trong phim là lúc chùm đèn rơi xuống khu vực nhà hát gây nên một sự hoảng loạn, tuy nhiên, chi tiết này hoàn toàn bị câu chuyện tay ba nhấn chìm suốt chiều dài phim.

Trong số ba nhân vật chính, Emmy Rossum là người diễn hay nhất khi thể hiện sự giằng xé giữa ơn nghĩa với Erik và tình yêu dành cho Raoul của Christine, đặc biệt là trong trường đoạn Raoul đấu kiếm với Erik tại nghĩa trang dưới trời tuyết. So với các phiên bản khác, Bóng ma Erik không chỉ tôn thờ, ngưỡng mộ Christine mà đó là cách duy nhất thể hiện giao tiếp của Erik ra bên ngoài. Hình tượng Christine và tình cảm của cô đối với Erik cho thấy sự khát khao được chấp nhận của Bóng ma. Tuy nhiên, lần này người xem đã chứng kiến một Bóng ma ghen tuông, hận thù trong tình yêu chứ không chỉ đơn giản là mong muốn được chấp nhận nữa. Đây cũng là một trong những yếu tố khiến sự kinh dị bị lu mờ đi nhiều. Những vặn xoắn trong tâm hồn Christine được Emmy Rossum thể hiện qua cử chỉ, ngôn từ , sắc thái biểu cảm trên khuôn mặt rất xuất sắc. Riêng với vai diễn này, cô đã giành được nhiều giải thưởng đáng nể.

Không chỉ có sự thay đổi trong kịch bản và diễn viên, bộ phim có sự mềm mại hơn so với nhiều phiên bản trước phần nào là do âm nhạc. The phantom of the opera lần này là một bộ phim nhạc kịch, một bữa tiệc giữa hình ảnh và âm thanh. Tuy nhiên, so với bản nhạc kịch Cats thì phần âm nhạc do Andrew Lloyd Webber viết không được giới phê bình đánh giá cao, mặc dù từng bản nhạc đều có sắc thái và gợi tâm trạng tốt. Lý do là những bản nhạc này được lặp đi lặp lại quá nhiều lần giữa các trường đoạn phim, đặc biệt là lời các bài hát quá lạm dụng cụm từ  “the angel of music” (thiên thần âm nhạc) nên gây cảm giác nhàm chán. So với phối khí của phiên bản năm 1925 thì các bản nhạc không lời quá ít nên thiếu đi sự hài hòa chung.

Toàn bộ câu chuyện diễn ra theo hồi tưởng của Tử tước Raoul de Chagny khi về già. Thông thường người ta hay sử dụng các đoạn phim màu để dàn dựng thời hiện tại trong khi các thước phim đen trắng được dùng cho thời quá khứ. Tuy nhiên, trong bộ phim này, toàn bộ thời quá khứ vàng son của nhà hát trong quá khứ được tái hiện lại bằng nhiều màu sắc sinh động. Thủ pháp này khá ấn tượng, đặc biệt tốt khi muốn nhấn vào tuổi già và hiện tại điêu tàn. Bên cạnh đó, điểm mạnh nhất của bộ phim lần này là dựng cảnh. Sân khấu nhà hát, tiền sảnh, sân thượng đều được khai thác các vị trí cảnh quay rất tốt. Trong phim dù rất ít yếu tố ngoại cảnh nhưng không có cảm giác bức bí vì khung cảnh thay đổi thường xuyên. Ngoài ra, nhân vật Bóng ma vốn là một thiên tài, không chỉ về âm nhạc mà còn là một kiến trúc sư giỏi, vì vậy, hầm ngầm của nhà hát đã thể hiện được ít nhiều tài năng này. Toàn bộ thế giới sau tấm gương của Christine không chỉ có tầng bậc, mà còn có những hàng nến, có thuyền Gondola gợi không khí hào hoa của Venice.

Đánh giá chung cho nhiều phiên bản The phantom of the opera thì bộ phim nhạc kịch của năm 2004 được lòng nhiều khán giả trẻ, mãn nhãn về màu sắc bối cảnh, âm nhạc có phong cách. Không chỉ có bộ phim mà CD nhạc phim cũng vẫn được đón nghe nồng nhiệt với số lượng lớn trong từng năm qua. Và thật sự, nếu muốn chọn một bộ phim vừa đủ lãng mạn, vừa đủ hồi hộp, vừa đủ phiêu lưu thì bộ phim ca nhạc này chính là thứ mà người xem cần.

Vankey